CÁO TẬT THỊ CHÚNG
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Thiền sư Mãn Giác)
NHÂN DUYÊN VÀ KÝ ỨC
Có những vần thơ ta đọc khi còn trẻ chỉ để thuộc lòng. Nhưng phải đi qua nửa đời người, kinh qua đủ thăng trầm mới thực sự thấu được ý nghĩa bên trong.
Tôi nhớ mình bắt đầu yêu thơ từ những ngày cấp hai. Cái sở thích kỳ lạ khiến một đứa trẻ sẵn sàng nhịn ăn sáng để dành dụm từng đồng lẻ. Mua cho bằng được quyển thơ nhỏ giá năm ngàn đồng nằm gọn trong lòng bàn tay. Tôi từng say mê học thuộc lòng các tuyển tập từ thơ Việt Nam đến Đường Thi, Tống Thi như một bản năng. Nhưng giữa muôn vàn tuyệt tác ấy. Bài kệ “Cáo tật thị chúng” của Thiền sư Mãn Giác vẫn luôn chiếm một vị trí trang trọng, tĩnh lặng trong ngăn kéo ký ức.
Hôm trước, trong một buổi tối quây quần cùng học viên, những câu thơ này đột ngột vang lên. Vào một ngày năng lượng Bảo Bình đang đầy biến động như hôm nay, tôi tìm đọc tiểu sử của Ngài. Bỗng dưng chợt hiểu tại sao sau hơn 20 năm, sức sống của “nhành mai đêm qua” vẫn mãnh liệt và in đậm trong tâm trí mình đến thế.
BẬC TRÍ GIẢ DƯỚI MÁI CHÙA GIÁO NGUYÊN
Thiền sư Mãn Giác – 滿覺 (1052 – 1096) thuộc trường phái Vô Ngôn Thông. Thế danh là Lý Trường – 李長, sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc thời Lý. Ngài vốn thông tuệ Nho học, được vua Lý Nhân Tông hết mực yêu mến. Thế nhưng, giữa lầu son gác tía và danh vọng đỉnh cao, Ngài lại chọn con đường xuất gia, tìm về bản ngã chân thật dưới sự dẫn dắt của Thiền sư Quảng Trí.
Bài kệ Cáo Tật Thị Chúng (Cáo bệnh bảo mọi người) không phải là một tiếng than thở của người bệnh. Đó là lời đúc kết tinh túy nhất của một bậc chứng ngộ trước thị tịch ở tuổi 45. Khi thân xác đối diện với quy luật tan rã, tâm thức của Ngài lại sáng tỏ hơn bao giờ hết. Với bối cảnh gia đình, học vấn và sự am hiểu cả Đạo Gia lẫn Phật Giáo. Không lạ gì khi ngài cho ra bài thơ xuất sắc như vậy vào lúc cuối đời.
QUY LUẬT THỊNH SUY: VŨ ĐIỆU CỦA ÂM DƯƠNG
“Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai.”
“Xuân qua, trăm hoa rụng, Xuân tới, trăm hoa cười.”
Chỉ với hai cặp đối lập “khứ – đáo” (đi – đến) và “lạc – khai” (rụng – nở), Thiền sư đã vẽ nên bức tranh toàn cảnh về sự vận hành của vũ trụ. Trong huyền học, đây chính là sự xoay vần của Âm và Dương. Xuân đến, dương khí thăng hoa, trăm hoa đua nở. Xuân đi, âm khí hội tụ, cánh hoa rụng về cội.
Phàm là con người, chúng ta thường mắc kẹt trong tâm lý chấp: Chỉ muốn Xuân đến mà sợ hãi Xuân đi. Chỉ mong hoa nở mà bi lụy lúc hoa tàn. Nhưng dưới con mắt của người hiểu Đạo. Sự rụng xuống của cánh hoa già không phải là sự kết thúc. Đó là sự nhường chỗ tất yếu cho mầm xanh mới. Nếu không có cái chết của cái cũ, làm sao có sự tái sinh của cái mới? Thịnh và suy chỉ là hai mặt của một đồng xu, là nhịp thở của tạo hóa mà bất cứ ai muốn tìm cầu sự an lạc đều phải học cách chấp nhận.
Nếu không có cảnh đông tàn, làm sao có cảnh huy hoàng ngày xuân. Trong thực hành huyền học, đôi khi ta thấy chuyện xấu nhiều hơn chuyện tốt. Điều đó khiến không ít người bế tắc. Nhưng đó mới chính là ý nghĩa nhân sinh: chính vì những chuyện bất như ý, ta mới nỗ lực tranh đấu và mưu cầu sự thay đổi. Một cuộc đời thuận buồm xuôi gió tuyệt đối, đôi khi lại làm ta mất đi ý nghĩa sống nhanh hơn cả những nghịch cảnh.
THÁI ĐỘ CỦA LỮ KHÁCH TRƯỚC DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH
“Sự trục nhãn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai.”
“Trước mắt, việc đi mãi, Trên đầu, già đến rồi.”
Đời người là một chuỗi những sự việc nối đuôi nhau trôi qua trước mắt. Ta mải miết đuổi theo những lo toan vụn vặt, để rồi một sớm mai thức dậy chợt thấy tóc đã pha sương. Dù bạn chọn cách sống tranh đấu hay biết đủ là vui, thời gian vẫn cứ trôi. Không có cách sống nào tốt hơn cách nào, mỗi người đều tự chọn một lối đi phù hợp với căn tính của mình.
Hơn mười năm nghiên cứu huyền học, tôi nhận ra: Định mệnh là quy luật, nhưng tâm thế là lựa chọn. Chúng ta không thể ngăn dòng thời gian, cũng không thể bắt hoa không rơi rụng. Chúng ta chỉ là những lữ khách đứng bên dòng sông cuộc đời. Thay vì cố tát cạn dòng sông hay bơi ngược dòng nước lũ, người trí giả chọn cách ngồi yên trên bờ, quan sát dòng chảy với tâm hồn an nhiên để lựa chọn thời điểm xuôi dòng phù hợp nhất.
TỨ TƯỢNG XOAY VẦN: SINH CƠ TRONG TUYỆT LỘ
Hai câu kết chính là nhãn tự, là nốt cao rực rỡ nhất làm bừng sáng cả bài kệ:
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”
“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai.”
Khi mùa xuân đã cạn, khi vạn vật tưởng chừng như đã tàn lụi dưới cái lạnh của mùa đông hay sự khắc nghiệt của thời gian. Thì đâu đó ở khoảng sân trước, một nhành mai vẫn vươn mình nở rộ.
Trong lý thuyết về Tứ Tượng, đây chính là khoảnh khắc Thái Âm sinh Thiếu Dương. Ngay trong lòng bóng tối sâu thẳm nhất, mầm sống của ánh sáng đã bắt đầu nảy nở. Nhành mai ấy chính là biểu tượng của chân tâm thứ không bị ảnh hưởng bởi sinh tử, không bị lay chuyển bởi thịnh suy.
Quy luật của vũ trụ vốn dĩ luôn có sự cân bằng: trong cái cùng cực của suy tàn luôn ẩn chứa mầm mống của sự hồi sinh. Chỉ cần bạn còn giữ được nhành mai tỉnh thức, thì bóng đêm của nghịch cảnh cũng chỉ là bước đệm cho một bình minh rực rỡ hơn.
TRẠNG TRÌNH: NHÀNH MAI GIỮA THỜI LOẠN LẠC
Trong lịch sử đất nước, chúng ta thấy không ít tấm gương sáng. Như Nguyễn Bỉnh Khiêm sống tại thế kỷ 16. Một trong những giai đoạn hỗn loạn nhất của lịch sử Việt Nam. Một người trí thức như ông đứng trước nghịch cảnh: Làm quan thì không đành lòng trước cảnh thối nát, mà ẩn dật thì xót xa cho nỗi khổ của dân.
Sau khi dâng sớ xin chém 18 nịnh thần không thành, bao gồm con rể. Ông cáo quan về quê, lập am Bạch Vân, tự hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Ông nhìn sự biến động của các triều đại như sự thay đổi của bốn mùa. Trong khi cả thiên hạ cuống cuồng trong vòng xoáy quyền lực, ông thong dong:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.”
Ông không chống lại dòng sông lịch sử đang chảy xiết, ông chọn cách ngồi yên trên bờ để nhìn dòng sông ấy trôi đi, nhưng đồng thời vẫn sẵn lòng mở cửa am để chỉ điểm cho những kẻ đang lạc lối (từ nhà Mạc, nhà Trịnh đến chúa Nguyễn).
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống thọ đến 94 tuổi. Một con số phi thường thời bấy giờ. Bí quyết của ông chính là tâm thế vô sự. Giữa lúc loạn ly, ông vẫn tìm thấy niềm vui trong việc trồng cúc, tưới cây, dạy học. Ông biến nghịch cảnh của đất nước thành cơ hội để xây dựng một thế giới tâm hồn riêng, nơi mà nhành mai của trí tuệ và sự bình thản vẫn nở rộ bất kể ngoài kia là đông tàn hay bão nổi.
LỜI KẾT
Có những cuộc đời từ khi sinh ra đến khi trưởng thành gặp muôn vàn đau khổ nhưng họ vẫn có thể lạc quan mỉm cười. Thái độ đối diện đó chính là khi Xuân khứ, giữa cuộc sống đầy biến động. Họ đã tìm thấy nhất chi mai của riêng mình?
Cáo Tật Thị Chúng đã từng có thời gian gây ra nhiều tranh luận xung quanh nội dung. Đối với tôi một tác phẩm hay là một tác phẩm trường tồn qua thời gian. Và ở tác phẩm đó, mỗi người trong mỗi giai đoạn của cuộc đời lại thấy một cái hay khác. Mỗi cảm nghiệm đều thật và đều đáng giá. Mùa xuân vĩnh cửu của mỗi người sẽ thực sự bắt đầu. Kể từ khoảnh khắc ta tìm thấy nhành mai đang lặng lẽ nở rộ trong chính tâm hồn mình.
LƯU Ý
Bạn có thể chia sẻ thông tin lên các trang cá nhân. Nhưng mọi hình thức đăng tải lại trên 25% nội dung bài viết. Không trích dẫn rõ ràng Link, Web, tên tác giả là không được phép.
Link nghe podcast: https://www.youtube.com/@LyNaHealing/videos
Ngoài ra bạn có thể tham khảo thêm bài viết khác cùng chủ đề: https://tranlyna.com/tam-su/
Hoặc các bài viết khác tại blog. https://tranlyna.com/
Hình ảnh của bài viết được sử dụng từ: http://canva.com